Thứ hai - ngày 20/5/2013 - 04:05:32

Nguyễn Vạn Bình : Mẹ Tôi

Ngày Hiền Mẫu hay Ngày Của Mẹ (tiếng Anh: Mother's Day) được tổ chức hằng năm vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5. Năm nay -2013- là năm đầu tiên, anh em chúng tôi cùng nhau thực hiện Slideshow “MẸ TÔI”, coi như Bó Hoa dâng kính các Đấng Sinh Thành.

May 12, 2013 ngày nhớ mẹ : MẸ ƠI...!

Những bài thơ về Mẹ trích từ tuyển tập : Lời Tình Buồn, Nỗi Đau Dài, Khắc Khoải, Bơ Vơ, Đôi Mắt.

Những vần thơ tháng Tư

Năm tháng vẫn trôi qua
Không quên được một ngày
Ba mươi Tháng Tư Đen
Bảy lăm năm ghi nhớ

Những tác phẩm nhiếp ảnh của nhà thơ Hương Kiều Loan

Nhân trong một diễn đàn, có người quen post lên một hình hoa Mãn Đỉnh Hồng, cũng còn có tên là Mạc Đỉnh Hồng nữa, tôi chợt nhớ ra mấy bức ảnh đã chụp loại hoa này năm trước trong Botanica Garden của KS, nơi tôi thường đi...săn...hoa....

Sơ lược về Văn Thơ Lạc Việt và lời cám ơn.

Như quí vị đã biết Văn Thơ Lạc Việt là hội đã có chiều dài hoạt động trong thời gian hơn 20 năm bắt đầu với năm vị nhà văn, nhà thơ :Hà Thượng Nhân, Chu Toàn Chung, Hoàng Anh Tuấn, Thượng Quân, và Dương Huệ Anh. Tôi là người tiếp sau cựu chủ tịch nhà thơ Đông Anh, ông bây giờ là cố vấn trực tiếp cho Văn Thơ Lạc Việt.

Tháng Ba, Ngày giỗ em.

Tháng Ba ta lại ... giỗ em
Lòng rưng rưng khóc giọt mềm lá rơi
Tháng Ba nguyệt vọng lưng trời
Hồn hoang gió hú chơi vơi đại ngàn
Tháng Ba em chết vội vàng

Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa

Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Ðông Dương ngày 25/1/1974 và ngày 31/1/1974 do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.

Những vần thơ tháng tư

AUDIO: ĐẠI TÁ VIỆT CỘNG ĐÀO VĂN NGHỆ TIẾT LỘ NHIỀU CHUYỆN ĐỘNG TRỜI VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Mời nghe chớ bỏ qua).

Những bài thơ Tháng Tư

Kính chào Qúy Văn Thi Hữu.
Hôm nay vào tháng Tư, Nhớ lại tháng Tư năm 1975, lúc đó qúy vị đang làm gì và ở đâu? Khi nhớ lại chắc qúy vị cũng ghi lại những hình ảnh, những kỷ niệm bằng những vần thơ.
Xin qúy vị gửi về trang Thơ Tháng Tư này để chia xẻ kỷ niệm cho các bạn thơ khác cùng đọc, cùng chia xẻ nỗi quan hoài.

Thời báo Ba Lan ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh

Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lan hôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu. Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt

Dân Làm Báo : Ghê Sợ Trong Cung Đình Vẹm: Phạm Gia Liên – Bà “hoàng” không ngai

Trong lịch sử đã có nhiều tấm gương xấu về việc các bà vợ lộng hành, lộng quyền, kể cả vợ vua. Vua để vợ lộng quyền thì mất nước. Hiện tại ở Bộ Công An Việt Nam có bà Phạm Gia Liên – con gái của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và là vợ của ông Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Công An là một người đàn bà lộng ngôn, lộng quyền và lộng hành.

Boxitvn.net : 31 Tướng, Cán Bộ Lão Niên Đòi Nguyễn Tấn Dũng Từ Chức

Kiến nghị quy lỗi cho Nguyễn Tấn Dũng bao bọc cho Phạm Thanh Bình để Vinashin đốt tiền, trích:
“Ban kiểm tra đã nêu Phạm thanh Bình lộng quyền, dối trá, làm nhiều việc sai trái, làm thất thoát đến 86.000 nghìn tỷ đồng của nhà nước thì đã rõ. Theo chúng tôi Bình phải bị truy tố và xử lý theo pháp luật. Nhưng Phạm thanh Bình mới chỉ là tội phạm trực tiếp, chính Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng

10 ngàn bản nhạc trước 1975

10 ngàn bản nhạc hay trong music album.
Mời nghe ... mệt xỉu . Tỉnh dậy nghe tiếp

Chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng lần thứ 11 trong căng thẳng

Trong những ngày sắp tới, dư luận có thể tiên đoán một liên minh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chính phủ và đại tướng Phùng Quang Thanh trong quân đội để nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong đại hội đại biểu toàn quốc sắp tới.
Nguyễn Văn Huy

Tình hình Việt Nam căng thẳng với Trung Quốc

Ngày hôm nay 18 tháng 8, phía Trung Quốc đã bắt đầu động binh mở ra các cuộc tập dợt phòng không chống "máy bay địch" những hình ảnh nầy đã được công khai phổ biến trên mạng Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Như vậy chúng ta thấy cả hai phía CSVN và CSTQ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến có thể xảy ra

Phung Huynh : Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ

Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ KHỦNG KHIẾP QUÁ !
Không có chuyện không kỳ quái trên the gioi, ngày 10 tháng 03 năm 2010 có một ông cụ tên là Thạch Lão Nhị, là người hái thuốc tại khu rừng núi ờ thị trấn Shin Ma phát hiện ra một đàn người heo.

TIÊN TRI VŨ TRỤ TRẦN DẦN TIÊN ĐOÁN VIỆT NAM SẼ THAY ĐỔI RẤT NHANH ÍT ĐỔ MÁU,

"Nhà Tiên Tri Vũ Trụ" và xưng là "Sứ Giả của God & Jesus" có tên thật là TRẦN DẦN, sinh ngày 24-02-1950 Dương Lịch lúc 5:00 giờ sáng, tức đúng giữa Giờ DẦN, Ngày DẦN, Tháng DẦN, Năm CANH DẦN (Giờ Dần (4:00AM - 6:00AM), ngày 06 tháng Giêng năm Canh Dần). Ông tên là Dần và ngày tháng năm sinh, giờ sinh của ông đều là Dần cả nên ông có tới “Ngũ Hổ” (5 con Cọp).

Vợ của LM Phan Khắc Từ tuyên bố

Được hỏi về vụ Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt bị tống xuất ra nước ngoài...Bà Tư Liên úp mở: " Những ai chống lại Đảng, chống lại nhân dân thì đều có chung một số phận như thế "
( Bản tin của một Giáo dân, Giáo xứ Vườn Xoài gửi cho Điện báo http://www.haingoai phiemdam. com/

35 Năm Mở Mang Bờ Cõi

Last Fourth of July at Mass I was touched firsthand by the patriotism and gratitude of these people. That day an elderly Vietnamese grandfather with his three grandsons sat next to me. Each wore a red tie, white shirt and blue pants. They were proud to be Americans.Thank you, God bless you, we appreciate you.

Hồ Sơ Tội Ác Của Hồ Chí Minh Và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Sau ngày cưỡng chiếm hoàn toàn miền nam năm 1975, Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng cộng sản Việt nam ra sức tuyên truyền các địa phương xóa bỏ hết mọi dấu vết tội ác của cộng sản đối với đồng bào và quân cán chính Việt nam cộng hòa, như phá hủy các nghĩa trang quân đội của miền nam, giải tỏa toàn bộ khu nghĩa trang Ba đồn cùng Đài

Flash Ebooks

Kellynguyen

Cẩm Vân

thằng mõ

Long Nguyen

Ý Dân

Tin Việt News

Phu Nu Cali

Việt Dương Nhân

Tu Do Ngon Luan

Vườn Tao Ngộ

NS Pham Manh Dat

Mạnh Thường Quân

Jennysbeauty

Văn Thơ Lạc Việt

John Ford (1894-1973). Phim Việt Nam ! Việt Nam

Chuyên mục: VideoCập nhật 2 năm trước

FavoritesThích nội dung nàyFeedbackPhản hồiPrintIn nội dung

Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân


Phim: Vietnam! Vietnam!


http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/HV_01.gif


image

Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.
Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971. 

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem. 

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.
- Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẻ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang. 
- Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bởi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hưởng một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời. 

Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên? 

Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẽ một lằn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngừng nổ''. 

Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giữa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lỡ nói xa lầy rồi... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ cs. 

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phũ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan " .... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ."
Tạm dịch : ".... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau." 

Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật. !!!

Tài Liệu 
(14.02.09) cuốn phim VietNam! VietNam! gồm 8 tập của Đạo Diễn John Ford (1894 -1973) . "Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971." Vì một lý do thầm kín nào đó mà Phim này nay mới được xem trên mạng internet youtube .

Vietnam! Vietnam! Tập 1 :

image


Vietnam! Vietnam! Tập 2 :

image


Vietnam! Vietnam! Tập 3 :

image


Vietnam! Vietnam! Tập 4 :

image


Vietnam! Vietnam! Tập 5 :

image

Vietnam! Vietnam! Tập 6 :

image


Vietnam! Vietnam! Tập 7 :

image


Vietnam! Vietnam!Tập 8 :



image

Vì tìm không ra tập 8 nên tạm đưa bài hát VietNam VietNam, đã đuợc gần 1 triệu 3 trăm ngàn lần nghe . Nếu ai được tập 8 xin vui lòng giúp đỡ.


Bước đầu trả lại danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa

Hội Thảo 'Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại'

 

tại Washington D.C

'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'

 

 

NỘI CHIẾN HOA KỲ VÀ

NGÀY 30.4.1975 TẠI VIỆT NAM

 

"VIETNAM! VIETNAM!"

MỘT CUỐN PHIM BỊ BỎ QUÊN 37 NĂM

 

http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5

 

 

Hà Giang (Người Việt)

WASHINGTON D.C. - Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.

Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).

Họ đến từ nhiều nơi, từ California, Canada, Florida, Texas... để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).

Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)


Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.

Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?

Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”

“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”

Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam - 35 Năm Nhìn Lại: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.” (Hình: Hà Giang)sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Johnson biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”

Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Johnson lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.

Cuối cùng, Tổng Thống Johson quyết định làm lơ với tin tình báo này.

“Tổng thống (Johnson) sợ
là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”


Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).

Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”

Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.

Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (lieutenant colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”

“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”

Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.

“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”

Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”

Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”

Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”

“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”

Ông kết luận.

Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.

Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”

Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Johnson.”

Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.

Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”

“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”

Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung...

Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.


Việt Nam 35 năm nhìn lại

Quỳnh Như (RFA 12.4.10)

 

 

Cuộc chiến tại Việt Nam đã kết thúc cách nay 35 năm nhưng đối với một thành phần đông đảo người Việt Nam, cả trong lẫn ngoài nước, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn cãi và làm sáng tỏ.

Photo: RFA

Buổi Hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại"

tại Hoa Thịnh Đốn ngày 9 tháng 4, 2010

 

 

Đó là chủ đề một cuộc hội thảo quy tụ gần 50 nhân vật gồm những cựu tướng lãnh Hoa Kỳ và những nhà nghiên cứu quân sự, nghiên cứu sử học của Mỹ, cùng với môt số nhà nghiên cứu, cựu viên chức cao cấp Việt Nam Cộng Hoà trong thành phần diễn giả và tham dự lên đến gần 200 người, trong hội trường U.S. Army and Navy Club tại Washington.

Dư luận không thể là bằng chứng

Vai trò và tinh thần chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến 20 năm tại Việt Nam kết thúc cách nay đã 35 năm vẫn chưa được nhiều người trong hai thành phần tham chiến đánh giá đúng đắn. Dư luận Mỹ nay đã nhìn lại đôi phần từ khi có đông đảo người Việt sang tị nạn, nhưng cũng còn sót lại những khuynh hướng đổ lỗi cho sự thất bại của phe đồng minh ở Việt Nam là do sự yếu kém trong sức chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Phía đảng Cộng Sản Việt Nam thì luôn luôn nhấn mạnh đến vai trò của quân đội Hoa Kỳ, coi thành tích chiến đấu của quân đội miền Nam chỉ là thứ yếu, kém cỏi, tuy vẫn mạnh tiếng tố cáo quân đội này đã gây ra những tổn thất lớn lao cho lực lượng Cộng Sản từ những ngày nổi dậy ở miền Nam cho đến những trận tổng tấn công 1968, 1972 và 1975 của quân đội miền Bắc.

Dư luận Mỹ nay đã nhìn lại đôi phần từ khi có đông đảo người Việt sang tị nạn, nhưng cũng còn sót lại những khuynh hướng đổ lỗi cho sự thất bại của phe đồng minh ở Việt Nam là do sự yếu kém trong sức chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Đại sứ Bùi Diễm

Cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm phát biểu lời khai mạc tại cuộc hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại" tại Hoa Thịnh Đốn. (April 4, 2010)

Sự thật lịch sử rất quan trọng đối với người Hoa Kỳ trong thế hệ ngày nay đang điều hành chính sách với Việt Nam , cũng như đối với những thế hệ đi sau của của những người chiến sĩ và viên chức Việt Nam Cộng Hoà. Những thế hệ hậu duệ đó nay đang chiếm giữ ngày càng nhiều những vị thế quan trọng trong nhiều lĩnh vực ở nhiều nước bên ngoài Việt Nam, cũng là thành phần không kém quan trọng đối với tương lai chính trị, kinh tế, xã hội của nước Việt Nam sau này. Nhìn lại lịch sử sau 35 năm chiến tranh về vai trò chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, do đó, là chủ đề cuộc hội thảo tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, do cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm, và những người có tâm huyết với những người Việt quốc gia trong và ngoài nước tổ chức hôm thứ sáu mùng 9 tháng 4 năm 2010.

Sự thật bị bóp méo

Một trong những nhân vật đã từng chứng kiến những giờ phút quan trọng của lịch sử là cựu Đại sứ Bùi Diễm - ông từng là thành viên trong phái đoàn của chính phủ quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà tham gia Hội nghị Geneve 1954, Hội nghị Paris năm 1973, từng nắm giữ các chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động của Việt Nam Cộng Hoà phát biểu lời khai mạc:

Đại sứ Bùi Diễm: “Hôm nay chúng tôi muốn chứng minh đã có sự bóp méo lịch sử, xuyên tạc những gì đã xảy ra ở miền Nam Việt Nam trước đây, và phản bác những định kiến sai lầm về vai trò, cũng như sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

Hôm nay chúng tôi muốn chứng minh đã có sự bóp méo lịch sử, xuyên tạc những gì đã xảy ra ở miền Nam Việt Nam trước đây, và phản bác những định kiến sai lầm về vai trò, cũng như sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”

Trong thập niên 1960, trên báo chí Mỹ, chẳng hạn như tờ Newsweek, đã có những tin tức, những bài báo với hàng tít: “Kẻ địch như hổ, còn chúng ta chỉ là những chú thỏ đế”. Dưới mắt những nhà báo có lối nhìn thiên lệch này, những “con hổ” được dùng để chỉ quân Cộng Sản , còn Hoa Kỳ và phía Việt Nam Cộng hoà bị ám chỉ là “những chú thỏ đế” một biểu tượng của sự hèn nhát. Sự thật thế nào. Ông Bùi Diễm cho biết:

Đại sứ Bùi Diễm:“Trên thực tế, những “con thỏ” đó đã chiến đấu rất dũng mãnh. Trong số các diễn giả tham dự hội thảo này, có những người đã từng chiến đấu hồi Tết Mậu Thân ở Huế, trong đợt phản công hồi “Mùa hè Đỏ lửa” năm 1972 để giải vây An Lộc và tái chiếm Quảng Trị.
Những nhân chứng từng tận mắt chứng kiến những gì đã diễn ra sẽ chứng thực sự dũng cảm và kể về những chiến công của Quân lựcViệt Nam Cộng hoà trong muôn vàn khó khăn. Dựa vào những kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua trong cuộc chiến sôi động lúc đó. Các nhân vật này sẽ trình bày với chúng ta về sự thật đích thực”.

Trong khi báo giới Mỹ ca ngợi sự dũng cảm của quân nhân Hoa kỳ ở Khe Sanh thì những chiến công của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trên chiến trường An Lộc, Quảng Trị hay trước đó là trong trận phản công hồi Tết Mậu Thân lại không được báo giới Mỹ nhắc đến.

Trong khi báo giới Mỹ ca ngợi sự dũng cảm của quân nhân Hoa kỳ ở Khe Sanh thì những chiến công của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trên chiến trường An Lộc, Quảng Trị hay trước

Thảm sát tại Huế năm 1968 vào Tết Mậu Thân

Thảm sát tại Huế năm 1968 vào Tết Mậu Thân của cộng sản VN. Courtesy NgoTheLinh (VN special forces website)

đó là trong trận phản công hồi Tết Mậu Thân lại không được báo giới Mỹ nhắc đến. Tuy nhiên có những sự thật không ai có thể chối bỏ.

Cuộc thảm sát ở Huế: bằng chứng cụ thể

Năm 1968, Việt cộng mở một cuộc Tổng tấn công ở hầu hết các thành phố khắp Miền Nam như: Saigon, Huế, Đà Nẵng, Biên Hoà, Ban Mê Thuột,...
Trong các trận đánh ấy, cuộc thảm sát ở Huế là sự kinh hoàng khó quên đối với dân chúng. Đại tá Trần Minh Công thuộc Lực lượng Cảnh sát Quốc gia Nam Việt Nam, cho biết, có khoảng 5,200 người vô tội, hầu hết là thường dân, trong đó có cả những nhà truyền giáo và giáo sư ngoại quốc được Viện Đại học Huế thỉnh giảng đã bị Việt cộng giết hoặc chôn sống.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người từng đảm trách chức vụ Giám đốc Phòng Thông tin, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington trong thời gian này nhận định, một trong những lý do khiến cuộc tấn công của Việt cộng vào Huế trở thành đẩm máu và kinh hoàng nhất là vì:


Nguyễn Ngọc Bích: “Nếu như cuộc tiến công hồi Mậu Thân vào Saigon là sự kết hợp của lực lượng quân giải phóng ở miền Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng, cộng với các đơn vị chính quy miền Bắc do Lê Đức Anh và Mai Chí Thọ lãnh đạo thì lực lượng tấn công Huế chỉ có quân chính quy Bắc Việt và kết quả của mặt trận Huế sẽ mang lại uy danh cho lực lượng này. Đây chính là điểm quan trọng nhất để quy trách nhiệm đối với những kẻ đã gây nên các cuộc thảm sát ở Huế năm 1968”.

Lực lượng tấn công Huế chỉ có quân chính quy Bắc Việt và kết quả của mặt trận Huế sẽ mang lại uy danh cho lực lượng này. Đây chính là điểm quan trọng nhất để quy trách nhiệm đối với những kẻ đã gây nên các cuộc thảm sát ở Huế năm 1968

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân còn cho thấy, Bắc Việt đã có sự thay đổi về chiến lược, từ chiến tranh du kích sang chiến tranh chính quy. Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công cho biết:


Trần Minh Công: “Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân Cộng Sản đã bất ngờ tấn công miền Nam nhưng đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hoà và lực lượng Cảnh sát kết hợp phản công tức thời. Vì thế âm mưu của Bắc Việt đã thất bại nhanh chóng. Kết quả là tổn thất về phía lực lượng Cộng Sản ở miền Nam rất cao và sau thất bại này, hầu hết các cơ sở nội thành và các chi bộ cộng sản được xây dựng từ lâu đã bị lực lượng Cảnh sát phá vỡ.
Hai năm sau cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân, Cộng Sản Việt Nam không thể tập hợp lực lượng để mở một trận đánh lớn nào vào quân đội Việt Nam Cộng hoà cho đến mùa hè 1972”.

Sức mạnh thực sự của QĐVNCH tại An Lộc và Quảng Trị

Sang năm 1972, Bắc Việt nghĩ rằng có thể sẽ giành được những chiến thắng quyết định trên chiến trường. Với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, lúc này, Quân lực Việt Nam Cộng hoà, có sự yểm trợ hoả lực của Mỹ tự lực chiến đấu với quân đội Bắc Việt được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, trợ giúp súng đạn tối tân.


Đầu tháng Tư năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt mở một trận đánh lớn vào An Lộc, một thị trấn nằm trên quốc lộ 13, nối liền Saigon với vùng biên giới Campuchia thuộc tỉnh Bình Long, với âm mưu biến khu vực này thành bàn đạp, tiến chiếm Saigon,. Bắc Việt đã huy động một lực lượng hùng hậu, quân số gấp bốn lần quân trú phòng, tấn công mãnh liệt với sự yểm trợ của xe tăng và đại pháo.
Sau 7 đợt tấn công, kéo dài gần hai tháng, mất hàng chục ngàn quân, chưa kể hàng chục ngàn lính bị thương, cuối tháng 5 năm 1972, Bắc Việt phải tháo lui.

Tại An Lộc. sau 7 đợt tấn công, kéo dài gần hai tháng, mất hàng chục ngàn quân, chưa kể hàng chục ngàn lính bị thương, cuối tháng 5 năm 1972, Bắc Việt phải tháo lui.

Trong mùa hè năm 1972, người miền Nam quen gọi là “Mùa hè đỏ lửa”, Bắc Việt xua quân tràn qua biên giới Việt – Lào và khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền, để tấn công Quảng Trị-Hụế. Sư đoàn 3 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà thoái lui và tan rã trước sức tấn công của 5 sư đoàn quân miền Bắc và nhiều trung đoàn xe tăng, phòng không, đại pháo, hoả tiễn đủ loại. Đến tháng 5 năm 1972 thì quân Bắc Việt chiếm được toàn bộ Quảng Trị.
Giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa khởi sự phản công. Đầu tháng 7 năm 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phản công để tái chiếm Quảng Trị- Đông hà.

Tái chiếm thành Quảng Trị

Tái chiếm thành Quảng Trị. Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Cuộc chiến 81 ngày giành lại thị xã và thành cổ Quảng Trị trở thành trận đánh ác liệt nhất trong “Mùa hè đỏ lửa”. Hai sư đoàn dũng mãnh nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Nhảy dù và thuỷ quân lục chiến làm lực lượng tấn công chính.

Một Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam Cộng hoà từng tham chiến tại Quảng Trị thuật trận đánh Cổ Thành đầu tiên, nổi bật tinh thần chiến đấu của đoàn quân Mũ đỏ. Ông thuật lại: tiểu đoàn của ông đi vòng lên hướng đông bắc, (xử dụng lối đánh vào ban đêm)bí mật nhổ hết chốt địch dọc đường, bất ngờ đánh vào làng Tri Bưu, và áp sát cửa Tả của cổ thành sau 18 ngày tấn kích liên tục qua những biển chốt phòng thủ của quân Bắc Việt. Ông nói tiếp lúc quân Việt Nam tràn qua bức tường thành:

Quảng Trị, cuộc chiến 81 ngày giành lại thị xã và thành cổ Quảng Trị trở thành trận đánh ác liệt nhất trong “Mùa hè đỏ lửa”. Hai sư đoàn dũng mãnh nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Nhảy dù và thuỷ quân lục chiến làm lực lượng tấn công chính.

“Trái bom tinh khôn gây một tiếng nổ bất ngờ, rung chuyển mặt đất, khoét một lỗ có đường kính khoảng 2m trên bức tường thành, đất đá ào ào đổ xuống hào nước rộng 20 mét cho quân tấn công chạy qua, trông như một phép lạ. Đại đội 51 tràn qua lỗ hổng đó vào bên trong… Tiếng súng M-16, M-60, M-79 vang động rõ mồn một. Đại đội 52 lập tức xông vào tiếp. Binh sĩ đại đội 51 đang ruợt bắn địch quân trên tường thành. Mọi thứ diễn ra y như kế hoạch đã định. Máy bay A 37 đánh hai trái bom rất chính xác, ngay cột cờ. Nhưng chiếc Phantom sau lại đánh theo màn khói bom trước đã trúng mục tiêu vừa bị gío tạt ngang đầu quân bạn, gây tổn thất nặng nề cho hai đại đội nhảy dù đang xung phong, làm tiêu tan sức chiến đấu...

Cuối cùng các chiến sĩ mũ xanh thuỷ quân lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã làm nên lịch sử. Họ đã dựng lại lá cờ vàng của miền Nam Việt Nam trên cổ thành vốn đã đẫm máu của vô số chiến sĩ đã hy sinh vì chính nghiã tự do và dân chủ cho quê hương của họ.”
Đó là lời của một cựu sĩ quan, thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù, một đơn vị tham gia chiến dịch phản công ở Quảng Trị.

Tất cả những chiến công đó là một phần của lịch sử mà không ai có thể xóa bỏ bởi nó đã được xây dựng bằng xương máu của những người lính Việt Nam Cộng hoà, trong hoàn cảnh hết sức cam go, cả trong lúc có sự tham dự trực tiếp của lực lượng Hoa Kỳ, lẫn khi không còn lực lượng này hỗ trợ.
Tuy nhiên, sang năm 1973, tình hình chiến trường Việt Nam có nhiều thay đổi bất lợi cho phía Việt Nam Cộng hoà. Việt Hà sẽ gởi đến quý thính giả những diễn biến từ năm 1973 đến năm 1975 trên mặt trận quân sự và ngoại giao. Mời quý vị theo dõi trong buổi phát thanh tới.

 

 

 

Ngày 8.4.1865 của Hoa Kỳ và

ngày 30.4.1975 của Việt Nam

 

 

Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về... Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miển Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant chưa kịp đến tay tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, cuả hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.

Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant”.

Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.

Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục,

quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

Theo yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

“….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”

Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.

Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”

Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Trận đánh quyết định tại Five Forks (Tháng Tư 1865)

Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết

ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.

Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

“Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.

Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.

4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”

Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.

Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ” Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.

Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.

Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…

Tại sao người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.

Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao vì Chiến bại tháng 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.

- Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn 25000 phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê hương gốc. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện của Miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…

- Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai

Khi mùa dứt chiến chinh trên quê hương tôi

(Tháng Tư 1975)

Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan,quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.

Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản?

 

 

 

 

"VIETNAM! VIETNAM!"

MỘT CUỐN PHIM BỊ BỎ QUÊN 37 NĂM

 

http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5

 

Mặc Lâm ( RFA)

Bộ phim “Việt Nam! Việt Nam” do đạo diễn lừng danh của Mỹ là ông John Ford sản xuất vào năm 1971 vừa được lưu hành rộng rãi trên mạng sau 37 năm bị giữ tại Văn Khố Quốc Gia Hoa Kỳ.

Mặc Lâm giới thiệu cuốn phim qua bài viết sau đây.

nhạc...

Một lần nữa, mạng lưới Internet đã chứng minh sức mạnh của nó sau khi Eric Spiegelman, người phát hiện và post cuốn phim “Vietnam! Vietnam” lên mạng và chỉ sau đó ít lâu, hàng ngàn người đã có dịp xem lại cuốn phim này trên Internet và tiếp tục truyền nhau xem khiến cuộn phim trở thành nổi tiếng qua sự chuyền nhau của cư dân mạng.

Cuộn phim tài liệu “Vietnam! Vietnam” dài 58 phút do John Ford sản xuất năm 1973 chia làm hai phần. Phần 1 mang tên “Việt Nam, Người dân và cuộc chiến”. Phần hai nói về các tranh luận cũng như hình ảnh phản chiến của nước Mỹ đối với cuộc chiến Việt Nam.

Nhà đạo diễn lừng danh

John Ford, người sản xuất những thước phim này là nhà đạo diễn lừng lẫy hàng đầu của Hoa Kỳ. Ông sinh năm 1894 và mất năm 1973. Ông đoạt 4 giải Oscars trong lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ. Giải Oscar đầu tiên ông nhận vào năm 1936 cho danh hiệu đạo diễn xuất sắc nhất qua bộ phim “The Informer”. Năm 1941 và 1942 tiếp tục nhận thêm hai Oscar nữa cũng với danh hiệu đạo diễn xuất sắc nhất. Năm 1953 ông thắng giải Oacar lần thứ tư cũng với danh hiệu đạo diễn xuất xắc nhất cho cuốn phim “The Quiet Man”.

“Những người này phải hiểu rằng những kẻ đang cầm súng chiến đấu là những anh hùng và họ không ngu ngốc như những thanh niên đang đứng đây hô hào phản chiến...

Một người Hungary

Sự nghiệp điện ảnh của John Ford khiến người ta phải nhiều lần khâm phục. Ông sản xuất hay đạo diễn cho 144 phim trong đó có 8 phim tài liệu và năm phim truyền hình. John Wayne, tài tử lừng danh của Mỹ trong các phim miền viễn tây đã đóng vai chánh trong 24 phim và ba bộ phim tập truyền hình do John Ford sản xuất hay đạo diễn. Bộ phim truyện “Việt Nam Việt Nam” là phim tài liệu cuối cùng ông sản xuất và hoàn thành vào năm 1971 trước khi qua đời hai năm sau đó.

nhạc...


Đạo diễn John Ford. Photo courtesy of Wikipedia.

Eric Spiegelman, người phát hiện ra cuốn phim và đưa lên mạng sau khi sửa lại phần âm thanh cho dễ nghe hơn đã viết:

“John Ford đã làm bộ phim “Vietnam!Vietnam” để ủng hộ cuộc chiến Vietnam thể theo đơn đặt hàng của chính phủ Hoa Kỳ trước khi ông mất. Cuốn phim này chưa bao giờ được công bố tại Mỹ và rất ít người được xem nó. Đây là cuốn phim được sản xuất bởi một đạo diễn Mỹ lừng lẫy, John Ford, có thể nói đây cũng là một cuốn phim tuyên truyền phục vụ cuộc chiến Vietnam. Cuốn phim tài liệu bắt đầu quay vài tháng sau Tết Mậu Thân và khi cuốn phim hoàn tất vào cuối năm 1971, nước Mỹ đã quyết định rút quân và thương thuyết hòa bình với đối phương. Cuốn phim trở thành không cần thiết cho mục đích tuyên truyền nữa và vì vậy nó bị cất vào ngăn kéo của văn khố quốc gia trong 32 suốt năm.

Tôi biết cuốn phim này 3 năm về trước, óc tò mò đã khiến tôi mượn cuốn phim ra khỏi Văn Khố Quốc Gia, edit lại để có thể xem được. Qua bao nhiêu năm, phần âm thanh của bộ phim đã bị hư hỏng tôi phải nhờ một người cháu phục hồi lại từng phần âm thanh một để dễ nghe hơn.

Những thước phim tài liệu trong phim thực sự gây kinh hoàng cho người xem. Không có một đoạn nào cho thấy có sự liên hệ đến những thước phim danh tác mà John Ford sản xuất trước đây. Có vẻ như như John Ford có mặt tại Việt Nam trong những giây phút bấm máy đầu tiên nhưng thật ra vào lúc ấy, tuổi tác và bệnh hoạn đã giữ ông ở Mỹ trong hầu hết các giai đoạn phim được quay. Theo Tag Gallagher, chuyên viên nghiên cứu về Ford cho biết thì John Ford giám sát toàn bộ việc edit phim cũng như có những lần ông viết lại kịch bản phim. Dù sao thì John Ford cũng muốn tên tuổi của ông dính liền với cuốn phim này. Nó phản ánh lại niềm tin mạnh mẽ của ông nơi những thước phim tài liệu sống động không thể nào chối cãi được.”

Với những nhận định như chúng ta vừa nghe, bộ phim hình như không đáng là một kiệt tác như Eric Spiegelman nhận xét. Vậy điều gì đã khiến cư dân mạng tranh nhau vào xem?

Khi trực tiếp xem phim có thể những hình ảnh, âm thanh lẫn cách bố cục phim sẽ gây bất ngờ cho người xem. Phim tài liệu nhưng qua tay thiên tài John Ford đã biến thành kiệt tác bởi lẽ, ông và ê kíp làm phim đã chọn những góc quay độc đáo để những hình ảnh mà đạo diễn muốn chuyển tải trở thành sống động và gây tương tác nơi người xem. Thông thường trong những phim tài liệu có mục đích tuyên truyền, người đạo diễn sẽ dàn dựng các hình ảnh sao cho có lợi cho phía của mình kể cả những góc ảnh có sự dàn xếp của các chuyên viên hóa trang hay họ dùng những kỹ xảo để gây hiệu ứng mạnh cho mục tiêu tuyên truyền.

Cuộc chiến Việt Nam

Phải đồng ý rằng phim “Việt Nam Việt Nam” là một bộ phim nhằm mục đích tuyên truyền, nhưng nếu tuyên truyền cho một vấn đề gì đó nhưng sử dụng hình ảnh của người thật việc thật thì sự tuyên truyền này đáng được khen ngợi. John Ford và ê kíp làm phim đã làm được điều này khi cho người xem tận mắt chứng kiến những hình ảnh hàng ngày của người dân bản xứ, nơi cuộc chiến đang ngày đêm diễn ra khi khốc liệt, lúc tạm ngừng. Hình ảnh tươi rói của đời sống được mang từ hiện trường vào phim nhằm minh họa cho một cuộc sống thanh bình của người dân miền Nam trước khi cuộc chiến bắt đầu.

Sound of helicopters

“Bởi vì cái giá phải trả cho một nền hòa bình loại đó sẽ biến những thế hệ người Việt Nam kế tiếp được sinh ra trong tối tăm hàng ngàn năm sau đó.

Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan

Lướt rất nhanh qua từng mảnh rời của cuộc chiến, phim ghi nhận lại những hoàn cảnh sống và chết của người dân quê Việt Nam dính liền với tâm trạng lo lắng, khổ đau của họ. Hình ảnh các nạn nhân tại Huế tìm xác người thân trong những mộ chôn tập thể và các đám tang của hàng ngàn nạn nhân là hình ảnh sống không thể chối cãi. Nó nói lên mặt thật của cuộc chiến tranh và những thông điệp đau thương này được người Mỹ nhìn nhận như thế nào? Trong đoạn phim này, đạo diễn đã quay người đi đưa đám mang áo dài trắng cùng những chiếc nón lá đan kẽ vào nhau tạo thành một vệt trắng cuồn cuộn trôi giữa trưa hè đã gây ra hiệu ứng thẩm mỹ đáng ghi nhớ và hơn nữa, những hình ảnh này nhấn người xem vào giữa đám đông, hòa tan với và cảm nhận rõ sự đau đớn của dòng người ra sao.

Đám tang

Phong trào phản chiến

Vào phần hai của bộ phim, và cũng là phần chính nói về hậu trường một nước Mỹ đang hoảng loạn, bị chia thành nhiều mảnh với nhiều tư kiến khác nhau. Bộ phim đưa tất cả những hình ảnh chính cũng như phản diện với cuộc chiến. Từ bên trong nhà trắng, Tổng Thống Kennedy phát biểu bắt đầu cho cuộc chiến này:

Kennedy


Thân nhân họ hàng đứng cạnh các bộ phận thân thể vừa được đào lên từ các mộ tập thể trong dịp Tết Mậu Thân 1968. Photo courtesy of Wikipedia.

Cho tới các nghị sĩ, dân biểu người chống kẻ bênh trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Những cuộc tranh cãi triền miên đã nhấn cuộc chiến vào sâu hơn với viễn ảnh thất bại mà những người phản chiến cố tạo ra để chống lại cuộc chiến tranh mà họ cho là không thể chiến thắng:

Phát biểu đầu tiên...

Những phát biểu tiêu cực này dẫn tới những cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ trên khắp nước Mỹ mà các trường đại học là nơi xuất phát. Người dân cũng không tránh khỏi những biến động đang xảy ra hàng ngày tại xứ cờ hoa, một trong những người qua đường được phỏng vấn đã mạnh mẽ cho rằng nên lập tức rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam là cách tốt nhất:

People

Vần đề sinh mạng của quân nhân Mỹ đã trở thành bức bối trong xã hội. Những đề nghị này khác của các chính trị gia Hoa Kỳ càng khiến tình trạng sa lầy thêm. Sinh mạng của quân nhân Mỹ nếu so với người dân Việt Nam thì sao? Với cái nhìn đầy nhân bản, tổng thống Ronald Regan tuyên bố:

“Chúng ta đang tính tới việc đánh giá sinh mạng của người Mỹ xem giá trị tới đâu. Hãy thử gạch một lằn ranh mà trong đó sinh mạng của người Mỹ và người Việt hai bên. Nếu phải cứu một người Mỹ mà phải đổi sinh mạng của 1000 người Việt thì sẽ ra sao? Tôi cho rằng rằng mạng người là mạng người.”

Trong một cuộc biểu tình, một người Hungary đã tức giận la lớn giữa đám đông rằng thật là xấu hổ cho những người đang đứng đây biểu tình chống lại những người chiến đấu tại Việt Nam. Những người này phải hiểu rằng những kẻ đang cầm súng chiến đấu là những anh hùng và họ không ngu ngốc như những thanh niên đang đứng đây hô hào phản chiến...

Hungarian


Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan. Photo courtesy of Wikipedia.

Một tù nhân Mỹ khi được thả ra tuyên bố với báo chí rằng có nhiều tù nhân đã bị buộc phải nói với các phái đoàn của Liên Hiệp Quốc rằng họ được đối xử nhân đạo và phương tiện thuốc men rất đầy đủ, trong khi đó thì những tù nhân bị đối xử ngược lại với những gì mà Bắc Việt tuyên truyền.

Quay trở lại nước Mỹ, hội đàm Balê đã dẫn tới kết quả mà chính quyền mong muốn: rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam càng sớm càng tốt. Tổng thống Nixon chính thức thông báo trước Quốc Hội Mỹ thời điểm rút quân của quân đội Hoa Kỳ, ông lập lại những điều mà ông đã tuyên bố vào ngày 14 tháng 5 rằng chính phủ Mỹ đang chuẩn bị để rút toàn bộ binh sĩ về nước.

Nixon

Nhưng rút bằng cách nào để không di lụy tới người dân lẫn những người lính từng chiến đấu với quân đội Mỹ? Tổng thống Ronald Reagan, lúc đó là thống đốc tiểu bang California tuyên bố:

“Việc chấm dứt chiến tranh và rút quân không phải dễ dàng khi tuyên bố rằng cuộc chiến chấm dứt và mang binh sĩ trở về nhà. Bởi vì cái giá phải trả cho một nền hòa bình loại đó sẽ biến những thế hệ người Việt Nam kế tiếp được sinh ra trong tối tăm hàng ngàn năm sau đó.”

Bài hát cán bộ....

Cuốn phim được khép lại với những bài ca của người cán bộ xây dựng nông thôn đang trên đường công tác dân vận. Cuộc chiến chưa chấm dứt sau khi cuốn phim hoàn tất vào năm 1971 vì theo như Hiệp Định Ba Lê, sau khi Hoa Kỳ rút quân sẽ trang bị cho quân đội miền Nam những quân trang quân dụng để tiếp tục chiến đấu qua danh xưng Việt Nam hóa chiến tranh. Và cuộc chiến như chúng ta biết đã thật sự chấm dứt bốn năm sau đó với những hệ lụy cho hàng triệu người Việt Nam.

Xin lưu ý: Vì lưu trữ từ năm 1971 trong điều kiện không hoàn hảo nên âm thanh của phần đầu phim rất kém, xin kiên nhẫn khi mở phim chỉ nghe âm thanh, hình ảnh sẽ xuất hiện trong vài giây đồng hồ sau.

Phim “Việt Nam! Việt Nam!” Được Công Bố Sau 37 Năm Bị Giấu Kín
Nguồn: Theo bài viết trong take2tango.com

Phim đang phổ biến trên mạng tên "Vietnam! Vietnam!" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973), ông đoạt tất thảy 4 giải Oscars vào năm 1973 ông nhận giải AFI Life Achievement Award (cùng năm ông được Tổng thống Richard Nixon tặng thưởng Huân chương Tự Do ). Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.

Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng. Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tấn khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xử tử tế.

Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lỗi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẻ gì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam. Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.

Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bởi vì tụi bây không biết gì về cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hưởng một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn cộng sản, và cả mọi người Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.

Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về việc có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?

Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của cố TT Reagan là: ''Liệu chúng ta có thể vẽ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản, và phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngừng nổ''.

Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, và vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giữa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lỡ nói sa lầy rồi...

Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ Cộng Sản.

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phũ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách. Trong các lời tuyên bố về việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, đáng chú ý nhất là lời của cựu tổng thống Ronald Reagan ( khi ấy là Thượng Nghị sĩ ):

" ... ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ..."

Tạm dịch: "... chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thệ hệ sinh tại Việt Nam về sau..."

Lời tiên đoán này, nay thành sự thật.
__._,

John Ford (1894-1973).
Theo: Youtube